Thứ Năm, 18/08/2022 8:58 chiều

ĐÁNH BẠC 2.000.000 ĐỒNG CÓ BỊ TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ KHÔNG?

11/11/2021, Hình sự, 864 Lượt xem

Câu hỏi:

Chào Luật sư, tôi có vấn đề cần Luật sư tư vấn như sau:

Tôi bị mấy anh em hàng xóm rủ rê đánh bạc lần đầu với số tiền là 2.000.000 đồng và bị công an bắt quả tang. Tuy nhiên, trên chiếu bạc công an thu giữ được số tiền 47.000.000 đồng. Vậy trong trường hợp này tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Và nếu bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì hình phạt của tôi là như thế nào? Mong Luật sư tư vấn, xin cảm ơn.

Trả lời:

Chào bạn

Về vấn đề pháp lý mà bạn hỏi, Luật sư xin được tư vấn như sau:

Căn cứ theo Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội đánh bạc như sau:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Theo đó, người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì sẽ bị truy tố trách nhiệm hình sự.

Đồng thời, căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 01/2010/ NQ-HĐTP quy định:

“3. Tiền hoặc hiện vất dùng để đánh bạc gồm:

+) Tiền hoặc hiện vật thu giữ trên chiếu bạc;

+) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;

+) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc.

  1. Khi xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc cần phân biệt:

  2. a) Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc được hướng dẫn tại khoản 3 Điều này; […]”

Căn cứ vào quy định trên, ngoài tiền và hiện vật sử dụng để chơi bạc (được trực tiếp tại chiếu bạc), những tài sản trên người gồm cả tiền và hiện vật bị cơ quan chức năng thu giữ mà “có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc” thì cũng sẽ được xác định là tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc. Trong trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc. Do đó, trong trường hợp của bạn số tiền đánh bạc được xác định để truy cứu trách nhiệm hình sự là tổng số tiền thu được trên chiếu bạc. Theo thông tin bạn cung cấp, bạn đánh bạc lần đầu với số tiền 2.000.000 đồng tuy nhiên, số tiền thu được trên chiếu bạc là 47.000.000 đồng như vậy căn cứ theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 thì bạn có thể bị khởi tố hình sự và chịu mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 3 năm.

Trên đây là tư vấn có tham khảo quy định của pháp luật. Hy vọng có thể giúp ích cho bạn.

V&HM tổng hợp

Nếu bạn cần tư vấn, cần luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và hỗ trợ thực hiện các thủ tục theo đúng quy định pháp luật, bạn có thể liên lạc với V&HM Law Firm qua số điện thoại: 098.449.9996 hoặc 098.515.8595 (Luật sư Dương Hoài Vân) hoặc đến trực tiếp Văn phòng Công ty Luật TNHH Một thành viên Vân Hoàng Minh tại: 422 (Tầng 3) Võ Văn Kiệt, Phường Cô Giang, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh hoặc văn phòng giao dịch của Công ty Luật TNHH Một thành viên Vân Hoàng Minh tại: 158/1A Nguyễn Sơn, P.Phú Thọ Hòa, Quận Tân Phú (Tầng 2).